Norris bước vào cuộc đua cuối mùa với mục tiêu vô cùng rõ ràng - cán đích trong top 3 để bảo đảm chức vô địch. Tay đua của McLaren xuất phát với khoảng cách 12 điểm dẫn trước so với Verstappen.
Dù việc bị Piastri vượt ngay ở vòng đầu tiên đã khiến Norris chịu áp lực lớn từ Charles Leclerc ở giai đoạn sau, anh vẫn giữ được vị trí thứ ba chung cuộc để chính thức đăng quang danh hiệu thế giới đầu tiên của mình.
Về phía Max Verstappen, tay đua người Hà Lan có một chặng đua với phong độ cao, anh chạy một mạch về đích và giành chiến thắng chặng. Những kì vọng về việc Piastri có thể gây khó khăn cho Max thực tế đã không xảy ra.
McLaren đã cho Piastri xuất phát với bộ lốp hard, chiến thuật này đã tạo ra sự lệch nhịp so với nhóm đầu và khiến các vị trí dẫn đầu bị giãn cách nhau trong giai đoạn vào pit. Nhờ dùng lốp hard, Piastri có thể chạy lâu hơn và chỉ phải vào pit ở vòng 41 - sau khi bị Verstappen vượt.
Với bộ lốp medium mới sau khi vào pit, Piastri cố gắng rượt đuổi Verstappen cho vị trí P1. Nhưng tốc độ trên bộ lốp hard của Verstappen vẫn đủ mạnh để duy trì cách biệt an toàn, dù Piastri đã cố gắng rút ngắn khoảng cách xuống còn 12,6 giây.
Sau khi chống đỡ những pha tấn công đầu cuộc đua từ Leclerc – người liên tục tạo sức ép nhờ DRS, Norris đã vào pit sớm để khóa chiến thuật với tay đua người Monaco. Điều đó đặt Norris vào giữa một nhóm đông xe sau khi ra khỏi pit, nhưng lúc này anh xử lý rất dứt khoát: nhanh chóng vượt Andrea Kimi Antonelli và Alex Albon, rồi thực hiện pha vượt đôi đầy sắc bén trước Liam Lawson và Lance Stroll tại Turn 6 - giúp giảm thiểu sự ảnh hưởng từ những xe chưa vào pit ở phía trước.
Tuy nhiên, chiếc Red Bull của Yuki Tsunoda lại trở thành vật cản tiếp theo. Khi được đội đua yêu cầu "hãy làm những gì có thể" để cản Norris, Tsunoda đã "đánh võng" qua lại trên đoạn thẳng giữa Turn 5 và 6. Pha xử lý khó chịu của Tsunoda buộc Norris phải chạy ra ngoài đường đua để hoàn tất cú vượt. Pha vượt của Norris được giám sát viên xác nhận là hợp lệ, nhưng Tsunoda bị phạt 5 giây vì thay đổi hướng quá một lần.
Sau khi đã thoát khỏi đám đông xe, Norris bắt đầu tạo khoảng cách an toàn khi tốc độ đầu stint của Leclerc (early-stint pace - tốc độ ở những vòng đầu sau khi vào pit) đã dần giảm so với tay đua McLaren. Do mục tiêu chính của Norris là đảm bảo vị trí trước Leclerc về mặt chiến thuật, McLaren gọi anh vào pit lần hai ở vòng 40 - ngay sau khi Leclerc chuyển sang chiến thuật hai lần pit ở vòng trước đó.
Leclerc sau đó rơi xuống phía sau George Russell – người chỉ một lần vào pit. Điều này giúp Norris rời pit và giữ vững vị trí thứ ba, dù tốc độ đầu stint bằng lốp medium của Leclerc từng có lúc khiến Norris phải lo lắng.
Norris lập tức đáp trả bằng cách giữ khoảng cách ổn định quanh mức 4 giây với tay đua Ferrari, khoảng cách đó thậm chí còn tăng thêm khi lốp của Leclerc xuống cấp trong năm vòng cuối. Từ đó, Norris chỉ cần giữ vững vị trí để nắm chắc ngôi vô địch. Thậm chí, đã có thời điểm tốc độ của Norris giúp anh rút ngắn khoảng cách với Piastri xuống dưới 3 giây trước khi đội yêu cầu anh giảm nhịp độ ở những vòng cuối.
Về phía Leclerc, dù đã vào pit và bị tụt ra sau, anh vẫn hơn Russell tới 25 giây khi chiếc Mercedes của tay đua người Anh gặp khó với bộ lốp hard bị xuống cấp sau 44 vòng đua.
Fernando Alonso kém Russell thêm 18 giây nữa. Vị trí thứ sáu của anh giúp Aston Martin khép lại mùa giải ở vị trí thứ bảy trên bảng xếp hạng đội đua - đứng trên Haas.
Esteban Ocon về thứ bảy sau pha vượt lại dứt khoát ở Turn 9 với Lewis Hamilton ở vòng 52. Hamilton cũng đã leo trở lại lên vị trí thứ tám sau khi bị loại từ Q1. Chiến thuật hai lần vào pit đã giúp anh có được điểm số, khép lại mùa giải đầu tiên đầy khó khăn với Ferrari.
| # | Tay đua | Thời gian | Số lần pit | Điểm |
|---|---|---|---|---|
| 1 | M. Verstappen | - | 1 | 25 |
| 2 | O. Piastri | +12,594s | 1 | 18 |
| 3 | L. Norris | +16,572s | 2 | 15 |
| 4 | C. Leclerc | +23,279s | 2 | 12 |
| 5 | G. Russell | +48,563s | 1 | 10 |
| 6 | F. Alonso | +1'07,562s | 1 | 8 |
| 7 | E. Ocon | +1'09,876s | 1 | 6 |
| 8 | L. Hamilton | +1'12,670s | 2 | 4 |
| 9 | L. Stroll | +1'14,523s | 1 | 2 |
| 10 | O. Bearman | +1'16,166s | 1 | 1 |
| 11 | N. Hulkenberg | +1'19,014s | 2 | - |
| 12 | G. Bortoleto | +1'21,043s | 1 | - |
| 13 | C. Sainz | +1'22,158s | 1 | - |
| 14 | Y. Tsunoda | +1'23,794s | 1 | - |
| 15 | A. Antonelli | +1'24,399s | 1 | - |
| 16 | A. Albon | +1'30,327s | 2 | - |
| 17 | I. Hadjar | +1 vòng | 1 | - |
| 18 | L. Lawson | +1 vòng | 1 | - |
| 19 | P. Gasly | +1 vòng | 2 | - |
| 20 | F. Colapinto | +1 vòng | 2 | - |
