Carlos Sainz đã tạo nên một trong những màn trở lại ấn tượng nhất lịch sử Formula 1 khi giành chiến thắng tại Australian Grand Prix chỉ 16 ngày sau ca phẫu thuật viêm ruột thừa.

Trong mùa giải 2024 đầy biến động với tay đua người Tây Ban Nha, chiến thắng của anh tại Melbourne gần như chắc chắn sẽ được nhớ đến như một trong những cuộc tái xuất vĩ đại nhất của môn thể thao này.

Tuy nhiên, Sainz không phải người đầu tiên vượt qua nghịch cảnh lớn để trở lại khoang lái và thành công. Trong lịch sử F1, đã có không ít câu chuyện truyền cảm hứng về những tay đua trở lại giành chiến thắng sau chấn thương nghiêm trọng. Dưới đây là 10 màn trở lại đáng nhớ nhất.

Niki Lauda

Máu từ những vết thương của Niki Lauda vẫn còn thấm đẫm chiếc mũ trùm đầu chống cháy khi ông trở lại đường đua F1 tại Monza, chỉ sáu tuần sau tai nạn cận kề cái chết ở German Grand Prix năm 1976.

Tại chặng đua đó, Lauda đang lao qua khúc cua trái tốc độ cao Bergwerk thì chiếc Ferrari bất ngờ giật sang trái rồi lao mạnh sang phải vào hàng rào chắn. Cú va chạm khiến bình nhiên liệu phát nổ. Sau khi được kéo ra khỏi chiếc Ferrari bốc cháy, với gương mặt bỏng nặng và phổi hít phải khói độc, Lauda phải trải qua nhiều ngày điều trị vết bỏng và hút sạch phổi - một thủ thuật nghe thật đáng sợ đúng như tên gọi của nó.

Trong quá trình hồi phục, Lauda được cho là đã nghe nhạc của Bob Marley để lấy tinh thần khi ông chạy bộ tập luyện. Sau đó, ông tuyên bố trở lại F1 tại Italian Grand Prix, bất chấp sự ngăn cản từ Enzo Ferrari. Ở buổi đua thử thứ Sáu tại Monza, nỗi sợ hãi vẫn bủa vây Lauda. Ông bỏ dở chương trình chạy xe và quay về khách sạn chỉ sau một vòng chạy với chiếc 312T. Nhưng sang thứ Bảy, sau khi quyết định tăng tốc độ từng bước một, Lauda đã gây kinh ngạc khi đánh bại thành tích vòng phân hạng của cả hai người đồng đội. Trong đó, Carlos Reutemann - người được Enzo Ferrari gọi về thay thế ông cũng phải xếp sau.

Trong cuộc đua chính, Lauda cán đích ở vị trí thứ tư đầy xuất sắc. Thậm chí, ông còn có thể giành vị trí cao hơn nếu không tụt xuống vị trí thứ 12 ngay vòng đầu tiên. Có vẻ như chẳng ai kịp nói với ông rằng quy trình xuất phát đã thay đổi trong thời gian ông vắng mặt.

Niki Lauda đã trở lại đường đua sau một vụ tai nạn nghiêm trọng tại Nürburgring để tham gia chặng đua Grand Prix Ý năm 1976.
Niki Lauda đã trở lại đường đua sau một vụ tai nạn nghiêm trọng tại Nürburgring để tham gia chặng đua Grand Prix Ý năm 1976. (F1)

Michael Schumacher

Michael Schumacher mới chỉ chạy được khoảng 40 giây tại British Grand Prix 1999 thì hy vọng vô địch mùa giải cùng với chân phải của ông đã chịu một cú đánh nặng nề.

Khi lao vào khúc cua Stowe ở tốc độ cao, hệ thống phanh sau trên xe của Schumacher bất ngờ gặp trục trặc, khiến chiếc Ferrari mất kiểm soát và đâm thẳng vào hàng rào chắn với vận tốc hơn 160 km/h.

Tai nạn khiến Schumacher gãy xương chày và xương mác ở chân phải, buộc ông phải bỏ lỡ sáu chặng đua liên tiếp. Trong thời gian đó, Mika Salo được gọi lên thay thế vị trí của ông.

Khi trở lại tại chặng đua Malaysian Grand Prix đầu tiên trong lịch sử, cả thế giới đua xe đều dõi theo để xem liệu vụ tai nạn có làm phai mờ ma thuật mang tên Schumacher hay không. Và câu trả lời là không.

Ông là người nhanh nhất ở buổi đua thử thứ hai, rồi bước vào vòng phân hạng và khiến cho các đối thủ trông hoàn toàn lép vế. Schumacher đã đưa chiếc F399 lên pole với khoảng cách 0,947 giây so với đồng đội Eddie Irvine, đồng thời nhanh hơn một giây so với bất kỳ tay đua nào không thuộc Ferrari. "Hoàng đế" đã trở lại.

Và như thể màn trình diễn ở vòng phân hạng vẫn chưa đủ để khiến Ferrari thêm phần yêu mến mình, Schumacher sau đó còn chủ động lùi xuống vị trí thứ hai trong cuộc đua để nhường chiến thắng cho Eddie Irvine - người khi đó vẫn đang cạnh tranh chức vô địch.

Mùa giải tiếp theo, khi Irvine rời đội và được thay thế bởi Rubens Barrichello, Schumacher đã mở ra giai đoạn thống trị huy hoàng cùng Ferrari bằng chức vô địch đầu tiên trong chuỗi năm danh hiệu liên tiếp.

Chiếc Ferrari bị hư hỏng nặng của Michael Schumacher được cẩu đi sau vụ tai nạn.
Chiếc Ferrari bị hư hỏng nặng của Michael Schumacher được cẩu đi sau vụ tai nạn. (F1)

Mika Hakkinen

Khi đang lao vào Turn 8 - khúc cua tốc độ cao tại Adelaide trong buổi phân hạng Australian Grand Prix 1995, chiếc lốp Goodyear phía sau bên trái bị xì hơi đã khiến chiếc McLaren MP4/10 của Mika Hakkinen bị mất lái. Chiếc xe đâm mạnh vào bức tường bê tông chỉ được bảo vệ bởi một lớp lốp chắn mỏng. Cú va chạm dữ dội khiến đầu của Hakkinen bị quật mạnh trong khoang lái, đập vào vô lăng và khiến anh bất tỉnh ngay lập tức.

Khi hàm của tay đua người Phần Lan bị khóa cứng và khuôn mặt bắt đầu chuyển sang màu xanh tím như những sọc xanh trên lá cờ Phần Lan được sơn trên mũ bảo hiểm của anh, các nhân viên cứu hộ đã phải thực hiện thủ thuật mở khí quản ngay bên đường đua - hành động đã giúp cứu sống anh.

Với hộp sọ bị nứt và tổn thương tai trong, tay đua người Phần Lan bước vào kỳ nghỉ đông đầy đau đớn. Do bị tổn thương dây thần kinh, mắt của Hakkinen phải được dán kín lại để có thể ngủ. Sau này anh thừa nhận rằng niềm vui duy nhất trong những tuần đầu hồi phục là lúc các y tá xoay van để truyền thêm một liều thuốc giảm đau mới vào cơ thể tàn tạ của mình.

Tuy nhiên, đến tháng 2 năm 1996, Hakkinen đã cảm thấy đủ khỏe để lái xe trở lại và McLaren đã sắp xếp cho anh một buổi chạy thử kín với chiếc MP4/11 mới tại Paul Ricard. Dù chỉ có thể cười bằng nửa khuôn miệng do tổn thương dây thần kinh, chỉ 87 ngày sau tai nạn, Hakkinen đã hoàn thành 63 vòng chạy trên đường đua nước Pháp. Thành tích tốt nhất của anh còn nhanh hơn nửa giây so với thời gian Michael Schumacher thiết lập bằng chiếc Ferrari F310 mới của mình vào ngày hôm trước.

Tay đua người Phần Lan sau đó được xác nhận hoàn toàn đủ thể lực cho mùa giải 1996. Và sau khi tránh được vụ va chạm kinh hoàng của Martin Brundle ngay vòng đầu tiên tại chặng mở màn ở Melbourne, anh cán đích thứ năm trong ngày trở lại Formula 1.

Mika Haikinen được các nhân viên cứu hộ thực hiện thủ thuật mở khí quản ngay bên đường đua.
Mika Haikinen được các nhân viên cứu hộ thực hiện thủ thuật mở khí quản ngay bên đường đua. (Linternaute)

Juan Manuel Fangio

Juan Manuel Fangio vốn đã quen với những thử thách về sức bền, khi ông rèn giũa khả năng kiểm soát xe huyền thoại của mình qua những hành trình khắc nghiệt khắp Nam Mỹ vào thập niên 1930 và 1940 (giống như các chặng Dakar Rally sau này) sau vô lăng của những chiếc Chevrolet được độ mạnh mẽ.

Thế nhưng, nhiệm vụ lái xe từ Lyon tới Milan để kịp dự Grand Prix Monza 1952 - một cuộc đua không tính điểm vô địch chỉ vài giờ sau khi vừa tranh tài ở một cuộc đua đường trường tại Bắc Ireland đã trở thành thử thách quá sức ngay cả với Fangio.

Sau 48 giờ không ngủ, Fangio có mặt tại Monza chỉ 30 phút trước giờ xuất phát. Khi cuộc đua bắt đầu, ông vẫn kịp hoàn thành hai vòng và vượt qua tới 15 đối thủ, trước khi sự mệt mỏi khiến phản xạ không còn chính xác khi đi qua khúc cua Lesmo thứ hai. Chiếc Maserati chạm vào mép cua phía trong rồi lộn nhiều vòng lao vào khu vực công viên bên ngoài đường đua. Tai nạn khiến Fangio gãy cổ và gãy lưng, đồng nghĩa mùa giải 1952 của ông kết thúc sớm.

Tuy nhiên, sau quãng thời gian hồi phục tại quê nhà Argentina - lấy lại thể lực nhờ những bữa ăn do mẹ chuẩn bị cùng những buổi đá bóng trên bãi biển kéo dài hàng giờ, Fangio đã trở lại Formula 1 vào mùa giải 1953.

Ngay chặng mở màn năm đó tại Buenos Aires, ông giành vị trí xuất phát thứ hai, chỉ chậm hơn chiếc Ferrari của Alberto Ascari đúng 0,7 giây. Fangio khép lại mùa giải theo cách đầy ý nghĩa bằng chiến thắng tại Monza, cũng là lần duy nhất ông bước lên bục cao nhất trong năm đó, qua đó cán đích ở vị trí á quân chung cuộc sau Ascari.

Nhưng kể từ thời điểm ấy, gần như không ai có thể ngăn cản Fangio nữa. Ông tiếp tục thống trị với chuỗi bốn chức vô địch liên tiếp từ năm 1954 đến 1957, trước khi chính thức giải nghệ vào cuối năm 1958.

Juan Manuel Fangio trên chiếc Maserati 250F tại Grand Prix Anh năm 1957 ở Aintree.
Juan Manuel Fangio trên chiếc Maserati 250F tại Grand Prix Anh năm 1957 ở Aintree. (F1)

Felipe Massa

Những tai nạn hy hữu tại F1 hiếm khi "kỳ lạ" như trường hợp của Felipe Massa tại Hungary năm 2009.

Trong phiên phân hạng tại Hungaroring, khi đang chạy ngay phía sau tay đua đồng hương Rubens Barrichello, Massa bất ngờ bị một chiếc lò xo văng khỏi hệ thống treo sau trên chiếc Brawn của Barrichello đập trúng mũ bảo hiểm. Mảnh kim loại lao vào Massa khi anh đang chạy ở tốc độ khoảng 250 km/h, khiến hộp sọ bị nứt và làm anh bất tỉnh. Chiếc F2009 sau đó tiếp tục lao thẳng vào tường lốp chắn.

Sau ca phẫu thuật khẩn cấp vì những chấn thương có thể đe dọa tính mạng, Massa cuối cùng được đưa trở về Brazil, nơi các bác sĩ đặt một tấm thép vào hộp sọ của anh. Sau quá trình hồi phục, Ferrari sắp xếp để tay đua người Brazil chạy thử chiếc Ferrari 2007 dùng lốp GP2 tại Fiorano. Tại đây, Massa tuyên bố với báo chí rằng anh cảm thấy ổn: "Như thể tai nạn chưa từng xảy ra... Tôi vẫn là 'tên khốn' như trước."

Sau khi phải ngồi ngoài phần còn lại của mùa giải 2009, Massa trở lại ở chặng mở màn mùa giải 2010. Dù anh bước vào năm mới với những tuyên bố đầy tự tin, vẫn có không ít người nghi ngờ liệu Massa có thể hồi phục hoàn toàn sau chấn thương, hoặc liệu anh còn đủ quyết tâm để trở lại đỉnh cao hay không.

Nhưng họ không cần phải lo lắng. Tại Bahrain, trong vòng phân hạng đầu tiên sau ngày trở lại, Massa nhanh hơn đồng đội mới Fernando Alonso hơn ba phần mười giây để giành vị trí xuất phát thứ hai. Đó cũng chính là vị trí anh cán đích khi cuộc đua khép lại.

Felipe Massa và vết thương ở trán sau vụ tai nạn kinh hoàng năm 2009.
Felipe Massa và vết thương ở trán sau vụ tai nạn kinh hoàng năm 2009. (SkySports)

Martin Brundle

Chặng đua Dallas Grand Prix 1984 suýt nữa đã chấm dứt sự nghiệp đua xe của Martin Brundle chỉ bằng một nhát dao phẫu thuật. Brundle đến Dallas sau màn trình diễn ấn tượng với vị trí thứ hai tại Detroit. Tuy nhiên, trong phiên phân hạng trên đường đua mà chính ông gọi là một "trò đùa", chiếc Tyrrell 012 của tay đua người Anh bị nổ lốp và lao mạnh vào tường bê tông tại khu vực chicane.

Cú va chạm xé toạc phần đầu xe, đồng thời khiến cả hai mắt cá chân và hai bàn chân của Brundle đều bị gãy. Giáo sư Sid Watkins đã phải hành động rất nhanh để ngăn các bác sĩ phẫu thuật người Mỹ - những người được mô tả là sẵn sàng cắt cụt một bàn chân của ông. Sau đó, Brundle được đưa tới một phòng khám trên phố Harley tại London và bắt đầu hồi phục khá tốt.

Thế nhưng chưa dừng lại ở đó, ông tiếp tục nhận tin dữ khi Tyrrell bị loại khỏi toàn bộ mùa giải 1984, sau khi bị phát hiện gian lận với các quả tạ chì được giấu trong bình nước trên xe của đội. Đúng là vận xui chồng chất. Dù vậy, Brundle vẫn hồi phục đủ tốt để được Tyrrell ký lại cho mùa giải 1985. Trong bối cảnh đội đua đang sa sút rõ rệt, ông vẫn cán đích ở vị trí thứ tám đầy kiên cường trong chặng đua trở lại tại Brazil.

Bất chấp việc những chấn thương gặp phải ở Dallas vẫn khiến ông đau đớn cho tới tận ngày nay, Brundle vẫn có một sự nghiệp Grand Prix kéo dài khi thi đấu cho những đội như Benetton, Ligier và McLaren. Ngoài ra, ông còn giành chức vô địch World Sportscar Championship năm 1988 cùng Jaguar.

Chiếc xe của Martin Brundle được cẩu đi sau vụ tai nạn tại Dallas năm 1984.
Chiếc xe của Martin Brundle được cẩu đi sau vụ tai nạn tại Dallas năm 1984. (Reddit)

Johnny Herbert

Johnny Herbert từng được xem như "Max Verstappen của làng đua xe trẻ cuối thập niên 1980", khi ông nhận được sự quan tâm từ những đội lớn như Ferrari, Williams và Benetton. Nhưng vào tháng 8 năm 1988, quỹ đạo sự nghiệp đầy hứa hẹn ấy đã bị chệch hướng bởi một vụ tai nạn kinh hoàng trong giải F3000 tại Brands Hatch.

Sau khi bị đối thủ Gregor Foitek ép văng khỏi đường đua, phần đầu chiếc Reynard của Herbert đâm thẳng vào trụ bê tông của cây cầu bắc qua đường đua, rồi bật ngược trở lại mặt đường và tiếp tục va mạnh vào hàng rào thép Armco.

Phần đầu xe đã bị xé toạc sau cú va chạm đầu tiên, khiến đôi chân của Herbert phải hứng trọn cú đâm thứ hai. Hậu quả cho ông là hàng loạt vết gãy nghiêm trọng ở cẳng chân, mắt cá và bàn chân.

Herbert phải trải qua nhiều tháng phục hồi đau đớn mới có thể lái xe trở lại. Tuy nhiên, Peter Collins của Benetton vẫn đặt niềm tin vào tay đua người Anh mặc dù nhiều người khác đã nghi ngờ, và ký hợp đồng để ông tham dự chặng mở màn mùa giải 1989 tại Rio.

Tại đó, chỉ bảy tháng sau tai nạn, và dù vẫn cần nạng để đi lại bình thường, thứ mà giám đốc thương mại mới của Benetton là Flavio Briatore thậm chí không cho phép mang tới Brazil, Herbert đã khiến cả paddock F1 kinh ngạc khi cán đích thứ tư ngay trong lần ra mắt Formula 1. Ông về đích chỉ chậm chưa tới ba giây so với chiếc McLaren xếp thứ hai của Alain Prost.

Johnny Herbert được sơ cứu khẩn cấp ngay sau khi vụ tại nạn kinh hoàng xảy ra.
Johnny Herbert được sơ cứu khẩn cấp ngay sau khi vụ tại nạn kinh hoàng xảy ra. (TJ13)

Graham Hill

Tại United States Grand Prix 1969, việc sử dụng bộ lốp thử nghiệm suýt nữa đã khiến Graham Hill phải trả giá bằng mạng sống. Đến vòng 89 của cuộc đua, bộ lốp nguyên mẫu ấy đã gần như hết tác dụng. Khi đi ngang khu vực pit của Lotus để bắt đầu vòng 90, Hill ra dấu rằng ông sẽ vào pit ở vòng kế tiếp để thay lốp mới. Nhưng chỉ vài giây sau, chiếc lốp sau bên phải trên xe bất ngờ nổ tung.

Chiếc Lotus 49B của Hill lộn nhiều vòng và văng khỏi đường đua. Do vài vòng trước đó Hill đã phải tháo dây an toàn để xuống đẩy nổ xe sau khi bị xoay vì dầu trên mặt đường, ông bị hất văng khỏi xe và rơi mạnh xuống bãi cỏ. Vụ tai nạn khiến đầu gối phải của ông bị gãy, đầu gối trái bị trật khớp và dây chằng ở hai chân bị rách nghiêm trọng.

Sự điềm nhiên rất đặc trưng của Hill phần nào che giấu mức độ kinh hoàng của tai nạn. Khi nằm viện, ông thậm chí còn nhờ bác sĩ tiện thể chỉnh lại chân trái, vốn từng bị chấn thương trong một vụ tai nạn mô tô 21 năm trước, để thợ may đo đồ dễ hơn. Nhưng cũng chính tinh thần thép quen thuộc ấy đã giúp Hill hồi phục đủ để kịp trở lại ở chặng mở màn mùa giải 1970 tại Nam Phi.

Tại đây khi ở tuổi 41, Hill xuất phát từ vị trí thứ 19 trên chiếc Rob Walker Lotus 49C đăng ký tư nhân, trước khi chiến đấu đầy quả cảm để cán đích thứ sáu và mang về điểm số.

Graham Hill được đưa bằng cáng xuống máy bay sau tai nạn tại United States Grand Prix 1969.
Graham Hill được đưa bằng cáng xuống máy bay sau tai nạn tại United States Grand Prix 1969. (Facebook)

John Surtees

Sau nhiều năm chinh chiến khắp thế giới trên xe hai bánh, tai nạn nghiêm trọng nhất trong sự nghiệp của John Surtees lại xảy ra khi ông cầm lái xe bốn bánh.

Năm 1965, Surtees tới Canada để đua trên những chiếc Lola mui trần sử dụng động cơ V8 7,0 lít tại Mosport. Khi đồng đội Jackie Stewart không hài lòng với cảm giác lái của chiếc xe mình sử dụng, Surtees đã hào hiệp nhận lời chạy thử giúp ông. Nhưng khi đang lao hết tốc lực trên đoạn thẳng chính của Mosport, trụ moay-ơ phía trước chiếc xe bất ngờ gãy vỡ. Chiếc Lola đâm vào hàng rào chắn, lộn nhào rồi đè lên chính người lái.

Tai nạn khiến xương đùi của Surtees bị gãy, xương chậu bị tách và thận bị tổn thương. Ông được đưa trở lại London, nơi bác sĩ phẫu thuật nổi tiếng Dr Urquhart cùng trợ lý của mình - một người chơi rugby bắt đầu điều trị theo cách vô cùng thô ráp: hai người đứng ở hai đầu cơ thể nhà vô địch năm 1964 và kéo mạnh để chỉnh lại phần chân bị lệch. Khoảng chênh lệch chiều dài chân từ 10 cm cuối cùng giảm xuống còn 2 cm.

Từ đó, Surtees bước vào hành trình dài để lấy lại thể lực. Ferrari - đội đã chi trả toàn bộ viện phí cho ông dù không có bảo hiểm còn chuẩn bị riêng một chiếc xe hồi phục cỡ nhỏ dùng động cơ V6 cho tay đua số một của mình. Surtees đã dành nhiều tuần đau đớn lái chiếc xe này liên tục tại trường đua Modena để tập luyện trước khi trở lại thi đấu chính thức vào đầu mùa giải 1966.

Ở chặng Monaco, cuộc đua Formula 1 đầu tiên sau ngày trở lại, Surtees từng dẫn đầu trước khi phải bỏ cuộc. Hình ảnh ông vượt qua Jackie Stewart còn xuất hiện trong bộ phim kinh điển Grand Prix của John Frankenheimer. Ngay chặng kế tiếp tại Spa trong điều kiện mưa cực lớn, Surtees đã tạo nên một trong những chiến thắng xuất sắc nhất sự nghiệp khi đánh bại Jochen Rindt với khoảng cách lên tới 42 giây.

Gerhard Berger

Nếu có ý định gặp tai nạn xe đường trường trên một con đường hẻo lánh ở Áo, tốt nhất hãy chắc rằng phía sau bạn có hai bác sĩ đang lái xe theo sau. Gerhard Berger đã rút ra bài học sinh tồn quý giá ấy vào mùa đông năm 1984, sau mùa giải Formula 1 đầu tiên của mình cùng ATS.

Một đêm nọ, trên đường trở về từ công ty vận tải của gia đình, Berger phải đánh lái gấp để tránh một chiếc xe vừa lao ra khỏi trạm xăng. Chiếc xe của ông mất kiểm soát, lao khỏi mặt đường và Berger bị hất văng qua cửa kính, rơi xuống nửa người chìm trong một con sông gần đó. Trong một bước ngoặt may mắn hiếm có, chiếc xe chạy ngay phía sau Berger đã thực sự chở theo hai bác sĩ trực thăng cứu hộ. Họ nhanh chóng xác định ông bị gãy cổ và lập tức truyền dịch bằng dụng cụ lấy ngay từ cốp xe của mình.

Sau ca phẫu thuật mang tính đột phá nhưng cũng đầy rủi ro, Berger hồi phục rất tốt. Và trong buổi gặp với ông chủ đội Arrows là Jackie Oliver tại một nhà hàng ở London để chứng minh mình đủ thể lực, Berger đã có màn "qua mặt" khá táo bạo. Theo lời kể, ông tháo nẹp cổ trước khi Oliver xuất hiện, rồi suốt bữa ăn luôn chống đầu bằng hai tay để che đi tình trạng cơ cổ bị teo yếu sau chấn thương. Màn thể hiện ấy đủ sức để thuyết phục Arrows ký hợp đồng với Berger cho mùa giải 1985.

Dù Arrows không phải đội đua hàng đầu, Berger từng chạy ở vị trí thứ bảy tại chặng mở màn mùa giải ở Rio trước khi hệ thống treo gặp sự cố. Ông khép lại năm đó với điểm số ở hai chặng cuối tại Nam Phi và Australia. Chiến thắng đầu tiên trong tổng số 10 lần vô địch chặng của Berger tại Formula 1 đến ngay mùa giải sau, sau khi tay đua người Áo chuyển sang Benetton.

Gerhard Berger trong màu áo đua của đội Arrows.
Gerhard Berger trong màu áo đua của đội Arrows. (Word Press)