Đó là một cỗ máy không những biết chiến thắng, mà còn làm thay đổi bộ mặt của F1 nói riêng và thể thao tốc độ nói chung. Những công nghệ được dùng trên chiếc xe này đã giúp cứu sống nhiều tay đua trong hàng chục năm.
Chiếc xe đang được nhắc đến là McLaren MP4/1 - mẫu xe F1 đầu tiên sử dụng khung gầm liền khối làm hoàn toàn từ sợi carbon. Cỗ máy này được tham gia đường đua lần đầu vào ngày 12/4/1981 ở GP Argentina.
Ngày nay, những chiếc xe làm từ sợi carbon đã trở nên đại trà và chúng ta khó có thể hình dung ra một thế giới thiếu vắng chúng. Tuy nhiên, có một điều đáng kinh ngạc, đó là khi chiếc McLaren MP4/1 ra mắt, mọi người đều nghi ngờ liệu sợi carbon có phải là vật liệu phù hợp để sử dụng cho xe đua không. Trước đó, đã có số ít đội đua thử nghiệm loại vật liệu này trên những khu vực không liên quan đến cấu trúc của xe với mục đích duy nhất là giảm cân.
Lúc bấy giờ, nhiều người vẫn sử dụng sợi carbon chưa đúng cách, khi họ xử lí nó tương tự như cách họ làm với sợi thủy tinh.
Và chính John Barnard - giám đốc kỹ thuật của McLaren là người đã thay đổi lịch sử.
Barnard bắt đầu công việc trong một dự án thí nghiệm "bí mật" của đội đua Project 4 (đứng đầu bởi Ron Dennis) vào cuối năm 1979, với mục tiêu thiết kế một chiếc xe với trọng tâm là khung cầm carbon liền khối.
Ông biết rằng, để vượt lên đối thủ, ông cần một chiếc xe có khung gầm hẹp để cho phép nó thể mang hầm gió Venturi lớn hơn, nhằm tối ưu hóa hiệu ứng khí động học mặt đất (ground effect).
Vật liệu trở thành rào cản khi mà nhôm - vật liệu phổ biến lúc bấy giờ quá dẻo so với kích thước khung liền khối mà ông yêu cầu. Thép cung cấp được độ cứng xoắn tốt hơn nhiều nhưng lại quá nặng.
Sợi carbon chính là câu trả lời. Nhưng, với việc không ai trong ngành đua xe sử dụng vật liệu này theo cách ông hình dung, ông phải đi tìm sự trợ giúp từ bên ngoài thế giới thể thao tốc độ.
Barnard đã gặp gỡ đơn vị British Aerospace engineering (BAE - Kỹ thuật Hàng không Anh), nhưng dù ban đầu tỏ ra hứng thú với dự án, BAE lại không có đủ tài chính để giúp đỡ ông. Dù vậy, BAE đã giới thiệu cho John kĩ sư Arthur Webb - một trong những kĩ sư hàng không của công ty với kinh nghiệm dày dặn về sợi carbon.
Cả hai làm việc miệt mài trên những bản vẽ cho khung gầm carbon liền khối, bao gồm một lớp nhôm tổ ong kẹp giữa nhiều lớp "vải" sợi carbon.
Kế hoạch tỉ mỉ này không chỉ cải thiện độ cứng xoắn và giảm trọng lượng khung gầm, mà còn cho phép thêm vào những chi tiết để lắp đặt các bộ phận khác trên xe như động cơ mà không làm ảnh hưởng đến sự nguyên vẹn của nó.
Một khi đã thiết kế xong cấu trúc, họ cần ai đó để sản xuất vì Project 4 không có cơ sở vật chất lẫn tài chính cho việc đó. Ron Dennis đã gặp gỡ nhiều chuyên gia ở Anh nhưng đều thất bại.
Và rồi Steve Nichols xuất hiện. Nichols là một kĩ sư người Mỹ đã từng làm việc chung với Barnard khi cả hai còn làm cho McLaren trước đó, và sau này họ tái ngộ cũng tại McLaren.
Lúc cả hai đang nhậu, Barnard than vãn về tình thế khó xử của mình, nhưng Barnard chỉ bảo Nichols rằng ông muốn tạo ra một loại khung gầm nhẹ hơn, cứng hơn và hẹp hơn vì ông không muốn toàn bộ sự thật bị lộ.
Nichols trước đó đã từng làm việc với sợi carbon, vì vậy Nichols không mất quá nhiều thời gian để biến lý tưởng của Barnard thành sự thật. Nichols giới thiệu cho Barnard công ty Hercules Aerospace - một công ty Mỹ mà Nichols từng phục vụ.
Hercules Aerospace nhanh chóng nhận ra lợi ích thương mại trong việc hợp tác với McLaren. Vì vậy, việc thuyết phục công ty này cũng khá suôn sẻ.
Công ty đến từ Mỹ giúp đặt sợi carbon lên lớp nhôm tổ ong một cách chính xác bằng bộ khuôn do Project 4 cung cấp và sau đó cho vào nồi hấp. Sau đó quy trình sẽ được chuyển về Anh để tiếp tục thực hiện.
Toàn bộ công cuộc cải cách này diễn ra trong khoảng thời gian khó khăn đối với Project 4, khi mà gánh nặng tài chính từ dự án F1 gây áp lực lớn cho Dennis và đồng đội.
Dennis đã từng thất bại khi không thuyết phục được Marlborođi tài trợ để giúp đội tiến lên F1. Nhưng đồng thời, nhiều sự thay đổi đang diễn ra lúc đó, và cam kết tài trợ mà Marlboro dành cho McLaren lúc đấy cũng đang dần bị lung lay.
Sáp nhập lúc đó là giải pháp tất yếu đối với Marlboro để họ có thể đánh thức một "gã khổng lồ đang say ngủ". Theo đó, Dennis, Barnard và sợi carbon đã được phát huy để đưa McLaren trở lại con đường chiến thắng.
Toàn bộ khung gầm liền khối của chiếc MP4/1 bao gồm lớp vỏ, ba vách ngăn và cấu trúc gia cố - tổng cộng chỉ có năm bộ phận. Trong khi đó, một khung gầm bằng nhôm ở thời điểm đó có ít nhất 50 bộ phận.
Không phải ai cũng bị thuyết phục bởi khái niệm mới đầy "thần kỳ" này, khi một số đội đua hoài nghi về độ thực tiễn của việc sử dụng sợi carbon quy mô lớn ở trên xe đua.
Nhưng khi John Watson chiến thắng chặng GP Anh năm đó, các đối thủ dần nhận ra đây là thứ họ nên có.
Và ở GP Ý năm 1981, McLaren đã thành công trong việc chứng minh cho cả thế giới thấy rằng, quyết định của họ về việc sử dụng sợi carbon là hoàn toàn đúng đắn.
Vụ tai nạn kinh hoàng của John Watson trong cuộc đua năm đó đã xé toạc phần sau của chiếc MP4/1, nhưng tay đua người Úc vẫn có thể tự mình thoát ra khỏi xe mà không hề hấn gì. Mọi thứ đã có thể tệ hơn nhiều nếu khung gầm đó được làm bằng nhôm.
Đây là khoảnh khắc bước ngoặt khiến cho toàn bộ đoàn đua phải chú ý. Không ai còn có quyền chê bai việc McLaren sử dụng vật liệu này nữa.
Và cũng như mọi thứ khác ở F1, việc áp dụng sợi carbon vào xe F1 diễn ra vô cùng chóng vánh, vì bảo thủ theo cách làm xe cũ tức là hi sinh lap time so với đối thủ.
Barnard là một nhà tiên phong, người đã giới thiệu cho F1 nói riêng và thể thao tốc độ nói chung một loại vật liệu vừa cứng, vừa nhẹ và an toàn hơn hẳn mọi thứ đã biết. Chỉ riêng điều đó thôi đã đủ sức làm thay đổi bộ mặt của cả một môn thể thao. Barnard không chỉ nâng cao tiêu chuẩn, ông thay đổi cả cuộc chơi.


